hỗ trợ

Hỗ trợ

hỗ trợ

Tư vấn

Điều trị tiêu chảy ở trẻ em.

Chuyên mục: Kiến thức vàng

Đăng ngày 13/8/2012 by admin

Có 3 vấn đề trong liệu trình điều trị tiêu chảy ở trẻ em mới theo WHO, UNICEF. Đó là: dùng oresol có tỷ trọng thấp (so với oresol cũ), kết hợp với bổ sung kẽm và dùng các thuốc chống tiêu chảy (chống loạn khuẩn, bảo vệ niêm mạc đường ruột).

Dùng oresol (mới) có tỷ trọng thấp

Dung dịch oresol (mới) có nồng độ natrichlorid 2,6g/l; glucose 13,5g/l và có tổng độ thẩm thấu (245mOsm/l), trong khi đó dung dịch oresol (cũ) có nồng độ natrichlorid 3,5g/l; glucose (20g/l) và tổng độ thẩm thấu (311mOsm/l). Như vậy, dung dịch oresol mới có tỷ trọng thấp hoặc có tổng độ thẩm thấu thấp hơn dung dịch oresol cũ.

 Theo khuyến cáo của WHO và UNICEF, oresol này sẽ được thay bằng oresol có tỷ trọng thấp hơn.

 

Các nghiên cứu cho thấy: nhóm trẻ dùng dung dịch oresol có tỷ trọng thấp (mới) làm giảm tới 33% số trẻ phải truyền dịch, làm giảm 20% số lượng phân bài tiết và làm giảm 30% số trẻ bị nôn so với nhóm trẻ dùng dung dịch oresol có tỷ trọng cao (cũ).

Kết hợp với việc bổ sung kẽm

Kẽm có vai trò quan trọng trong việc tăng cường chức năng miễn dịch và hồi phục biểu mô ruột. Trong khi đó, tại các nước đang phát triển (trong đó có nước ta) bình thường đã có tới 30-40% trẻ em thiếu kẽm (theo Viện Dinh dưỡng quốc gia). Vì vậy việc bổ sung kẽm trong tiêu chảy ở trẻ em lại càng cần thiết.

Trong điều trị tiêu chảy cấp: Các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng (có so sánh với nhóm chứng) chỉ ra rằng trẻ 1 tháng đến 5 tuổi (không phân biệt tuổi, tình trạng dinh dưỡng) nhóm dùng kẽm với liều 5-45mg/ngày đã làm giảm 20% thời gian tiêu chảy, giảm 18-59% số lượng phân và với liều 10-20mg/ ngày (trong 14 ngày) đã làm giảm độ nặng, thời gian mắc của bệnh so với nhóm chứng không dùng kẽm.

Trong tiêu chảy kéo dài: Các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng (có so sánh với nhóm chứng) chỉ ra rằng nhóm trẻ có dùng kẽm sẽ làm giảm được 24% trẻ bị tiêu chảy, giảm 42% tỷ lệ thất bại điều trị hay tử vong so với nhóm không dùng kẽm. Riêng với nhóm dưới 1 tuổi là trẻ trai, bị gầy còm hoặc trẻ có nồng độ kẽm trong huyết tương thấp hơn bình thường thì sự đáp ứng với kẽm tỏ ra tốt hơn. Nhận xét chung là dùng kẽm sẽ làm giảm thời gian và độ nặng của bệnh tiêu chảy kéo dài.

Ngoài việc dùng kẽm trong điều trị, dự phòng, nhóm trẻ bổ sung đủ kẽm cũng làm giảm tỷ lệ tiêu chảy khoảng 18% so với nhóm trẻ không bổ sung kẽm.

Ấn Độ đã thực hiện nghiên cứu trên 6 cụm dân cư (với 30.000 trẻ) cũng cho thấy: dùng kẽm kết hợp với bù dịch tại cộng đồng đã làm giảm 34% sự can thiệp của nhân viên y tế, giảm đáng kể việc kê đơn kháng sinh và các thuốc chống tiêu chảy không rõ nguồn gốc khác, làm giảm đáng kể tỷ lệ trẻ phải nhập viện do tiêu chảy.

Dùng loại kẽm sulfat, kẽm acetat hay kẽm gluconat đều cho kết quả như nhau. Khi dùng, cần tính toán theo liều quy ra kẽm (như nói trên).

Dùng các thuốc chữa tiêu chảy

- Thuốc chế từ vi khuẩn lành tính

Mục tiêu dùng các thuốc này là chống loạn khuẩn, kích thích tăng sản xuất IgA, phục hồi khả năng hấp thu của niêm mạc ruột, thường dùng các thuốc:

+ Lactobacillus acidophilus (antibio, biolactyl, biofidin, lacteol fort) chế từ vi khuẩn Lactobacillus acidophilus đông khô. Nhờ acid lactic và các chất kháng sinh (chưa rõ công thức) tiết ra từ vi khuẩn mà chế phẩm sẽ lập lại cân bằng sinh thái vi khuẩn ruột, chống loạn khuẩn ruột, kích thích tăng sản xuất IgA, phục hồi khả năng hấp thu của niêm mạc ruột.

+ Lactic acid bacillus trong Teralac là dạng bào tử, chúng sẽ nảy nở trong khoảng 30’ khi tới ruột non và sinh sôi nhanh chóng bằng cách phân chia nhiều lần. đạt tới 108/g chất trong ruột. Teralac tạo ra phần lớn vi khuẩn chí trong ruột. Teralac chứa Lactic acid bacillus, đó là các vi khuẩn gram dương, vi khuẩn kị khí, vi sinh vật ưa khí. Chúng sản xuất acid lactic, một chất giống kháng sinh, kháng sinh của vi khuẩn, enzyim lactase. Chúng tạo ra nhiều lactic acid, với tỷ lệ so với lượng acid toàn phần là trên 85%.

+ Gelatin Tannat được xem là dạng Tannin tốt nhất chống tiêu chảy vì đảm bảo được sự phân phối của tannin trong hợp chất ban đầu trực tiếp đến ruột. Gelatin Tannat không bị biến đổi trong môi trường acid dạ dày; khi đến ruột dưới tác động của môi trường kiềm phân giải thành tannin và gelatin. Tannin liên kết với các chất albuminnoid và chất nhầy của ruột, trung hòa các sản phẩm của sự xuất tiết ồ ạt của vách dạ dầy ruột; sự xuất tiết này ảnh hưởng đến lớp màng nhầy của nó, làm sưng tấy và theo vòng luẩn quẩn lại dẫn đến sự xuất tiết ồ ạt. Gelatin tác dụng bằng cách cung cấp một số bảo vệ cơ học cho niêm mạc bị viêm chống lại các acid hay kiềm tạo ra do sự lên men của vi khuẩn hay sự thối rữa trong quá trình tiêu hóa ở dạ dày ruột.

Hầu hết các thuốc dùng trong liệu trình điều trị đều có ở nước ta. Riêng oresol nước ta đang sản xuất theo công thức oresol cũ (có tỷ trọng cao) có thể chuyển sang sản xuất theo công thức oresol mới (tỷ trọng thấp) mà không khó khăn gì lớn về mặt kỹ thuật. Do vậy, việc áp dụng liệu trình khuyến cáo của WHO và UNICEF là thuận lợi.

 

Gửi phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

Share with:

Bài viết mới:

Cùng chuyên mục:

SẢN PHẨM

brochure Reamberin-A3-convert Ferlatum 9x21 11 brochure vohetin 8